Majorca và Chopin

_dsc3103_w

Tựa tay vào lan can bụi bặm nằm ngoài vườn phòng tu số bốn trong đan viện của dòng tu Carthusian ở làng Valldemossa, tôi phóng mắt ra thung lũng gắt nắng. Nhiệt độ không cao lắm nhưng dưới cái nắng như đổ lửa, tôi cảm tưởng nếu không có nhà, không có cây, con người chỉ như những lũ kiến, oằn mình dưới lòng thương của một thế lực cao hơn. Giống như cuốn sách mô tả màu đỏ mà không dùng từ đỏ, Valldemossa khiến tôi chợt nhớ đến sa mạc dù nơi này không hề có cát.
Tôi nhớ đến Satzky trong Kara-Bugaz của Paustovsky và nỗi căm ghét sa mạc đến ám ảnh, sâu sắc, không một chút thương hại. Chỉ có con người mới có thể căm thù đến như vậy. Ông làm việc lâu năm ở miền Trung Á và là một trong những người đầu tiên khảo sát vịnh Kara-Bugaz. Satzky gọi sa mạc là cái nhọt và khối u ác đang gặm dần mặt đất, là sự tàn độc không tài nào hiểu nổi của thiên nhiên. Chỉ có điều, thời đấy Trung Quốc chưa hoàn thành xong Vạn Lý Trường Thành Xanh để chống lại quá trình hoang mạc hoá.

Ấy thế mà cũng chính từ góc nhìn không sai một độ này, Chopin đã trải qua cả một mùa đông mưa giông, bão táp, tăm tối, lạnh lẽo – ở một nơi vốn có trên 300 ngày nắng một năm. Majorca cả trăm năm nay đã tấp nập khách du lịch, được ví như hòn đảo của người Đức ở vùng biển Baleare vì nó được người Đức ưa thích tuyệt đối. Thủ phủ của hòn đảo rộng 3600 cây số vuông này là Palma xập xình tấp nập khách du lịch nhờ cuộc sống về đêm phải chăng. Người Đức mê những vùng vịnh dựa lưng vào núi đẹp tuyệt ở Cala D’Or hay bãi biển trải dài bất tận ở Alcudia. Nhưng những gì đọng lại và văng vẳng như những sợi dây đàn bị kéo căng trong tôi là ngọn hải đăng ở mũi Formentor đẹp sững sờ trong hoàng hôn (nơi tôi cầu hôn cô) và ngôi làng nhỏ Valldemossa.

Chopin đã từng ở đây ba tháng mùa đông trước khi bị bệnh lao quật ngã phải trở về Pháp. Tôi lại nhớ đến chuyến đi chơi tháng Năm ở hòn đảo nhỏ Hydra ở Hy Lạp, sau một lần chuyển máy bay, hai chuyến tàu điện ngầm và một cuốc phà mới đến được nơi – hòn đảo yêu thích của Leonard Cohen. Được tận mắt chứng kiến ngôi nhà ông mua để về đây ở hàng năm với cánh cửa xanh. Một con lừa bị nhốt trong sân cất lên những tiếng rít buồn bã, một con chó già bị bệnh gầy giơ xương đến kinh hãi, một tu viện nằm trên đỉnh dãy núi ở phía bên kia vực – lối lên duy nhất là trèo ngược xuống bến cảng và đi đường khác lên. Tôi phải lòng say mê những người nghệ sĩ tài hoa, nhưng chưa bao giờ cái cảm giác muốn diện kiến họ tận mắt (cho dù là người đã chết hay còn sống) từng mảy may xuất hiện. Chỉ có một ám ảnh duy nhất. Lần theo những dấu chân nghệ thuật họ để lại.

Trong vườn ngoài căn phòng Chopin từng ở.

Ngày 5.11.1836, Chopin gặp nữ bá tước Aurora Dupin (nhà văn Pháp với bút danh George Sand) ở Salon của nữ nam tước Maria D’Agoult và Franz Lizst – sự bắt đầu của mối quan hệ tình cảm lãng mạn kéo dài hơn 10 năm sau đó. Vì chứng bệnh thấp khớp của con trai, năm 1838 George Sand quyết định chuyển đến một nơi có khí hậu ôn hoà hơn và mời Chopin cùng đi trên chuyến hành trình về miền Nam ấy. 15.12.1838, Chopin, Dupin cùng hai con của bà và bà hầu gái Amelia đến Valldemossa – vì không đi lễ nhà thờ, năm người ở một dãy nhà thuộc tu viện của dòng tu Carthusian để tránh sự kì thị của dân làng – như George Sand miêu tả trong cuốn Un hiver a Majorque, trang 147, “Một nơi rộng rãi, với phòng ốc sang trọng thông thoáng, nhờ những cánh cửa sổ màu xanh lam với nhiều hình dạng phong phú, đẹp đẽ. Nơi này được ngăn cách với tu viện bằng một hàng lang dài tăm tối với cánh cửa gỗ sồi đồ sộ, nặng trịch. […] Ở phía chái nam, vài căn phòng có cả vườn, đôi khi diện tích to bằng cả căn phòng, ngăn cách nhau bằng những bức tường đá cao đen ba mét, kết thúc bằng chiếc ban công vững chắc nhìn xuống những khu rừng cam nhỏ trên đồi. Ngay những bãi đất dưới lan can là cơ man nào những nho, hạnh và cây cọ […]. “
Trong ba tháng ở nơi đây, khoảng thời gian bệnh tật hành hạ tồi tệ nhất, Chopin đã cho ra đời một trong những nhạc phẩm danh tiếng va xuất sắc nhất của mình sau này. Preludes op. 28 (phần lớn) với các cung La thứ, Đô thăng thứ, Si giáng trưởng, Đô trưởng, Rê giáng trưởng…, Polonaise cung Đô thứ op. 40, Mazurka cung Mi thứ op. 41 no. 2, Scherzo cung Đô thăng thứ op. 39, Nocturne cung Sol thứ op. 37 no. 1 và còn nhiều nhiều nữa… Trái ngược thời gian đầu với những ngày nắng bất tận, mùa đông 1838 là một giai đoạn khắc nghiệt với sương mù, bão và giá lạnh đã khiến cho đôi nhân tình trở thành tù nhân trong bốn bức tường tu viện với những hành lang dài, tối tăm và ngập tràn những tiếng gió rít thê lương. Bất chấp những ngày nắng hiếm hoi, cảnh sắc tuyệt vời của Valldemossa và tình yêu của George Sand, sức khoẻ của Chopin đi xuống trầm trọng, cả thể xác lẫn tâm thần. Bệnh lao hành hạ, nỗi cô đơn, những cơn trầm cảm tồi tệ. Chẳng vì một lý do cụ thể, tôi nhớ đến văn hào Nhật Yasunari Kawabata, mồ côi cha mẹ từ năm hai tuổi, ông và chị gái sống cùng ông bà ngoại. Năm lên bảy, bà ngoại qua đời, năm chín tuổi chị mất, năm 14 tuổi mất nốt ông ngoại. Ở tuổi 20, tưởng chừng như gắn bó cuộc đời mình với người hết mực yêu thương thì lại bị nàng từ hôn.
Cứ như ông trời đã tính toán rất chi li sòng phẳng – những người nghệ sĩ tài hoa luôn có cuộc đời cô đơn sầu thảm như một sự trừng phạt cho tâm hồn vĩ đại của họ. Từ xa xưa, Aristotle vốn đã tự đặt câu hỏi, “Tại sao những con người xuất chúng về triết học, thi ca hay nghệ thuật đều hay buồn thảm?”. Hơn hai nghìn ba trăm năm trôi qua, toàn thể nhân loại vẫn chẳng mấy ai có câu trả lời.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s